Pages

This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thương hiệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 5, 2012

Google với thế giới trực tuyến trong 5 năm qua

Được chính thức thành lập vào năm 1998 và trải qua hơn 10 năm phát triển, Google đã thực hiện tổng cộng trên 80 vụ mua lại các dịch vụ từ các công ty phần mềm trên thế giới. Một trong số những sản phẩm mua lại đã mang lại những ảnh hưởng rất lớn không chỉ với bản thân Google mà còn với toàn bộ ngành công nghiệp Công nghệ Thông tin hiện nay. Sau đây là 5 trong số những dịch vụ nổi tiếng đã từng được Google mua lại.
1, DoubleClick
Ngày mua:                      13/4/2007
Hình thức kinh doanh: Quảng cáo trực tuyến
Giá mua:                         3.1 tỷ USD
Sở hữu:                           Google Adsense
Trước khi được Google mua lại, DoubleClick là một công ty chuyên phát triển và cung cấp dịch vụ quảng cáo trên mạng Internet, khách hàng của họ bao gồm rất nhiều tập đoàn và nhà sản xuất nổi tiếng như GM, Microsoft, Coca-Cola ..v.v…Công nghệ chủ yếu của DoubleClick được biết đến như là DART (Dynamic Advertising Reporting Targeting), nó được thiết kế nhằm tăng hiệu quả doanh thu cho các nhà quảng cáo và giảm thiểu hàng tồn đọng không bán được cho các nhà sản xuất.
Vào ngày 13/4/2007, Google đã chính thực thông báo rằng đã đồng ý mua lại DoubleClick với giá khủng là 3.1 tỷ USD tiền mặt. Cho tới thời điểm này thì dịch vụ này vẫn được xếp hàng vào danh sách lịch sử các vụ mua lại của Google.
2 , Android.
Ngày mua:                       17/8/2005
Hình thức kinh doanh:  Phần mềm di động
Giá mua:                         Chưa thống kê chính xác
Sở hữu:                           Android
Trước năm 2005, Android là chỉ là một công ty khởi đầu rất nhỏ. Sau khi được Google thống nhất mua lại thì số phận Android đã thay đổi và trở lên nổi tiếng thế giới từ phát minh đầu tiên là Gphone (Điện thoại của Google sử dụng hệ điều hành Android).
Dự án của Android ngày càng nóng sốt và thu hút được nhiều nhà sản xuất nổi tiếng như HTC, Intel, Motorola, Nvidia, Samsung Electronics, Sony Ericsson…..
Google đã thiết lập mối quan hệ tốt với các đối tác nhằm thúc đẩy thành công Android đến một vị trí hàng đầu trên thị trường điện thoại di động sau 2 năm. Chính vì thế mà Android đã trở thành nguồn lời nhuận quan trọng nhất của Google bên cạnh nguồn thu nhập từ việc tìm kiếm của họ. Ngoài ra thì toàn bộ ngành công nghiệp di động đã bị đẩy về phía trước do nền tảng nguồn mở Android và là sự cạnh tranh khốc liệt nhất với với IOS và RIM.
3, Youtube.
Ngày mua:                       09/10/2006
Hình thức kinh doanh:  Chia sẻ Video trực tuyến
Giá mua:                         1,65 tỷ USD
Sở hữu:                           Youtube
Youtube là một trong những dịch vụ chia sẻ Video trực tuyến nổi tiếng nhất hiện nay trên thế giới, Google đã chính thực mua lại Youtube nào năm 2006 với giá tương đối lớn khoảng 1, 65 tỷ USD.
Lịch sử của Youtube được tạo ra bởi 3 nhân viên Papal là Chad Hurley, Steve Chen và Jawed Karim, Vào tháng 7/2006 công ty đã thông báo rằng có khoảng trên 65.000 Video mới được tải lên mỗi ngày, và trang web của họ đã đạt con số 100 triệu lượt xem Video mỗi ngày. Ngay sau khi mua lại, Google đã tăng tốc sự phát triển Youtube và tiếp tục bảo đảm cho vị trí số 1 trong lĩnh vực chia sẻ Video. Cũng theo một nghiên cứu thị trường mới nhất của các chuyên gia, Youtube là nhà cung cấp thống trị Video trực tuyến tại Hoa Kỳ với thị phần khoảng 43% và hơn 14 tỷ Video được xem trong tháng 5/2010.
4, AdMob.
Ngày mua:                      09/11/2009
Hình thức kinh doanh: Quảng cáo trên điện thoài di động
Giá mua:                        750 triệu USD
Sở hữu:                           Không xác định rõ
AdMob cũng là một công ty quảng cáo di động được hợp nhất phát triển vào năm 2006. Trong năm 2009, Google đã trả giá cao hơn và mua lại thành công AdMob với giá 750 triệu USD, việc mua lại được hoàn thành chính thức vào ngày 27/5/2010.
Trước khi được sự quan tâm của Google, AdMob đã mua lại một công ty có tên AdWhirl để nhập nền tảng cho việc phát triển quảng cáo trong các ứng dụng iPhone. AdMob đã cung cấp giải pháp quảng cáo cho nhiều nền tảng điện thoại di động như Android, IOS, webOS và tất cả các trình duyệt web trên điện thoại di động.
5, Picasa,
Ngày mua:                      13/7/2004
Hình thức kinh doanh: Chia sẻ ảnh trực tuyến
Giá mua:                        Không rõ
Sở hữu:                          Picasa, Blogger.
Sau khi mua lại, Google đã tăng cường chức năng chia sẻ ảnh trực tuyến Picasa để nó có thể  trở lên đủ mạnh so sánh  với Flickr. Picasa đã có trên 3 triệu lượt tải về và khoảng 10.000 tổng số lượt tải hàng tuần trên Cnet.com. Và sử phổ biến của dịch vụ này cũng được nâng lên trong những năm gần đây. Ngày 01/3/2010, Google đã chi 5 triệu USD để có được Picnik, một dịch vụ chỉnh sửa ảnh trực tuyến, và sau đó đã tích hợp với Picasa. Tóm lại,  Google Picasa đang được cải thiện rõ ràng và họ sẽ có những giải pháp tốt hơn nữa trong tương lai để luôn theo kịp thị trường chia sẻ ảnh trực tuyến như hiện nay.
XHTT (theo Brothersoft)

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2012

Hai bài học về xây dựng thương hiệu

Một trong những yếu tố làm nên nét đặc biệt của thương hiệu là tính cách thương hiệu.

 
Nhưng chọn lựa và phát triển tính cách đó như thế nào, một thương hiệu đa tính cách có thể tạo ra sự đồng cảm với nhiều đối tượng khách hàng hay mỗi loại khách hàng chỉ có thể tìm thấy mình trong một thương hiệu?
 
Làm thế nào để duy trì sự nhận dạng thương hiệu một cách tập trung trong khi vẫn phù hợp với nhiều nhóm đối tượng mà thương hiệu đang tương tác? Điều đó có thể được giải quyết khi thương hiệu được nhận thức như một cá nhân.

Dùng nhân vật nổi tiếng làm đại diện hình ảnh cho một thương hiệu là cách làm khá hiệu quả và phổ biến để xây dựng tính cách thương hiệu và quảng cáo sản phẩm, bởi khả năng tạo ấn tượng gần gũi trong nhận thức người tiêu dùng nhờ cá tính và phong cách của người nổi tiếng.
 
Tuy nhiên, cách làm này có thể nguy hiểm bởi các khả năng:
 
(1) Kết nối lệch lạc giữa “sao” và sản phẩm;
(2) “Sao” đại diện cho quá nhiều sản phẩm nên giá trị ảnh hưởng bị phân tán;
(3) Người tiêu dùng có thể hoài nghi động cơ làm đại diện cho một thương hiệu của “sao”;
(4) “Sao” cũng là người nên có lúc phạm phải sai lầm khi đang làm đại diện cho thương hiệu, dễ gây rắc rối cho thương hiệu.

Cuộc se duyên giữa thương hiệu với các sứ giả có thành công hay không tùy thuộc vào mục đích và chiến lược của từng thương hiệu: nhanh chóng tranh thủ thị hiếu để giành thị phần hay trao cho sứ giả sứ mệnh đánh thức “những tín đồ ngủ quên”...
 
Có thể thấy nhiều điều từ kết quả chiến dịch “Tôi là tôi” (I am What I am) của Reebok và “Máy tính cũng là chuyện cá nhân” (The computer is personal again) của Hewlett-Packard dưới đây:

50 Cent - ngôi sao nhạc rap đang ở đỉnh cao sự nghiệp trị giá hàng triệu USD và trở thành cái máy in tiền cho nhiều hãng lớn, là nhân vật được Reebok chọn cho chiến dịch toàn cầu quảng bá loại giày đi bộ hiệu G-Unit.
 
Video game mang tên Bulletproof của 50 Cent và hợp đồng với hãng đồ thể thao Reebok đã gây một chấn động lớn khi mẫu quảng cáo của hãng này bị Hiệp hội Tiêu chuẩn quảng cáo Hoa Kỳ cấm phát sóng.
 
Reebok từ chối nói về cuộc hợp tác với 50 Cent nhưng thừa nhận hãng này cũng phải nhìn lại rủi ro về thương mại bởi họ cũng không thể tính hết được những tác dụng ngược. Hình ảnh “Thằng bé hư” (Bad boy) mà hãng này đang khai thác là chuyện xưa trước khi tên tuổi 50 Cent được chú ý. Câu hỏi đặt ra là tại sao Reebok lại chọn nhân vật này cho chiến dịch quảng cáo rầm rộ toàn cầu?

Không riêng Reebok, văn hóa hip-hop xuất hiện đầy rẫy những thương hiệu nổi tiếng, từ Mercedes đến Louis Vuitton hay Courvoisier. Đối với các công ty khai thác các ngôi sao hip-hop, cơ hội tăng doanh số đột ngột hay hứng chịu một vụ bê bối hình ảnh, được đánh giá là ngang nhau.
 
Ai cũng ngạc nhiên khi hãng sản xuất champagne lớn như Cristal cũng trở thành sự lựa chọn của các tay chơi nhạc rap, sau khi 50 Cent đổ những chai Cristal đắt tiền lên lưng các vũ công trong một video clip của anh ta.
 
Frederic Rouzaud - Giám đốc điều hành Cristal Champagne hơi giật mình khi nghe tên sản phẩm mình được rap lại trong các bản hip-hop. Với thái độ cẩn trọng của một nhà ngoại giao, ông tỏ vẻ nhát gừng khi đụng đến văn hóa hip-hop: “Tôi nghĩ tốt hơn là họ nên uống champagne thay vì đổ nó đi!”.

Nhiều thương hiệu đang cố thay đổi để trở thành hình ảnh thú vị trong mắt giới trẻ nhưng điều này gây không ít phản tác dụng phụ vì cách tiếp cận không đúng cách. Chẳng hạn McDonald năm ngoái nỗ lực gắn bó sâu hơn với giới trẻ bằng cách xem hip-hop là con đường dẫn đến... bao tử của các thực khách tuổi teen! McDonald đưa ra chiêu treo giải cho các nghệ sĩ sáng tác và hát rap về những chiếc bánh Big Mac với giải thưởng là tiền mặt cho bất cứ bài hát nào có về Big Mac được phát sóng!
 
Dĩ nhiên ý tưởng đó chẳng bao giờ thành hiện thực vì không có ban nhạc nào thích bị “mua” kiểu đó. Sai lầm của McDonald là ở thái độ quá thẳng thừng của họ đối với mục đích kinh doanh và với hip-hop, dù hip-hop hiện nay là thứ văn hóa có khả năng tạo trường ảnh hưởng có tính toàn cầu đối với thế hệ trẻ.
 
Có một sự tương quan giữa hip-hop với tất cả thương hiệu, vì vậy cuộc chạy đua để trở thành những thương hiệu quyến rũ với giới trẻ là gay cấn như nhau. Tiêu chí của sự hấp dẫn thay đổi xoành xoạch, nên các hãng dù có chạy theo thế nào thì vẫn luôn đi sau nó một bước. Kết nối với hip-hop luôn có thể là con dao hai lưỡi. 

Giải thích với Hiệp hội Tiêu chuẩn quảng cáo Hoa Kỳ, Reebok nói mục đích của chiến dịch “Tôi là tôi” là để cổ vũ tinh thần thể hiện bản thân và sự độc đáo cá nhân.
 
Hiệp hội này cho rằng Reebok phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn người nổi tiếng và mẩu quảng cáo được xem là dung thứ cho tính bạo lực, có thể là động cơ cho những hành vi sai trái. Hình ảnh 50 Cent với trò chơi bắn súng mang hình ảnh quá bạo lực.
 
Oái ăm hơn là hình ảnh bạo lực này lại đi kèm với một chương trình sale đầy thiện chí: mỗi đôi giày hiệu G-Unit bán được sẽ trích 50 xu cho quỹ từ thiện xã hội. Về kinh nghiệm sử dụng hình ảnh người nổi tiếng, có lẽ Pepsi dẫn đầu nhờ chiến lược dùng một loạt các ngôi sao trong thời kỳ đỉnh cao sự nghiệp của họ.

Còn bài học thực tế trong chiến dịch “Máy tính cũng là chuyện cá nhân” của HP rất đơn giản: dùng những người sáng tạo để phát biểu một cách sáng tạo những điều rất thực tế. Lấy cảm hứng từ ý tưởng “những bàn tay nói chuyện” (talking hands), loạt quảng cáo mới của HP mời những tên tuổi nổi tiếng như nhà văn Paul Coelho, nhà tạo mẫu thời trang Vera Wang, vua nhạc rap Jay-Z, vô địch trượt tuyết Shaun White, đạo diễn Michel Gondry...
 
Mỗi nhân vật đó lâu nay được biết dưới một cái tên và được xem như một biểu tượng, giờ đây dùng bàn tay để kể những câu chuyện về cuộc sống và công việc thường ngày họ làm với chiếc máy tính cá nhân HP. Ít người biết cả ba tập phim hoạt hình 3D Shrek 1, 2, 3 (riêng phần 3 là 4D) đều có phần kỹ thuật được thực hiện trên chiếc máy HP hỗ trợ công nghệ của AMD.
 
Kết quả của chiến dịch “Máy tính cũng là chuyện cá nhân” trong quý I/2007 cho thấy doanh số máy tính cá nhân tăng 17% đạt 8,7 tỉ USD, trong đó riêng máy xách tay tăng 40%.
 
Các chuyên gia marketing ở Trung tâm Công nghệ Silicon Valley đánh giá cao nỗ lực và thành công của HP khi xây dựng hình ảnh một HP hiện đại, gần gũi hơn với người tiêu dùng, mặc dù nhà sản xuất máy in và máy chủ hàng đầu thế giới này chỉ mới tấn công vào thị trường máy tính cá nhân, để cạnh tranh cùng Dell, Lenovo, Acer..
 
(Vietnambranding - Theo Saga)

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

Những thương hiệu "nắm giữ" thế giới


Bạn có thể biết rõ rằng Sprite và Fanta là hai nhãn hiệu của Coca-Cola, nhưng bạn có biết rằng Hot Pockets và L'Oreal có cùng công ty mẹ là Nestlé?
Một số lượng khổng lồ các thương hiệu nổi tiếng trên thế giới được quy về 10 tập đoàn đa quốc gia danh tiếng: Kraft, Coca-Cola, Pepsico, General Mills, Kellogg, Mars, Unilever, Johnson & Johnson, P & G và Nestlé.
tap-doan-da-quoc-gia
10 tập đoàn đa quốc gia sở hữu hầu hết thương hiệu FMCG nổi tiếng trên thế giới (Cập nhật đến tháng 1/2012)

Không phải chỉ ngành công nghiệp hàng tiêu dùng mới có sự hợp nhất này. 90% các phương tiện truyền thông trên thế giới được kiểm soát bởi sáu công ty (giảm từ 50 vào năm 1983). Tương tự như vậy, trong khoảng hai thập kỷ vừa qua, 37 ngân hàng ở Mỹ cũng đã sáp nhập để trở thành các tên tuổi như JPMorgan Chase, Bank of America, Wells Fargo và CitiGroup.
- Yên Vũ -
(Phương Trinh -
Theo Doanh Nhân Sài Gòn)

Quả táo khuyết khiến cả thế giới thèm muốn

qua-tao-appleBiến cái phức tạp thành đơn giản, nâng cái tầm thường lên đỉnh cao nghệ thuật, bán thiết bị kỹ thuật cao với giá thấp, làm cả thế giới mất ăn mất ngủ vì chờ đợi. Apple - quả táo khuyết đang khiến dân công nghệ phát cuồng.
Năm 1975, Steve Jobs, chàng sinh viên 20 tuổi đã bỏ học quay về quê nhà ở Bắc California nhằm tìm kiếm một công việc thú vị hơn. Với vị trí là một nhân viên lập trình game cho hãng Atari, anh tụ tập giải trí với một nhóm người cùng sở thích ở Menlo Park được gọi là Câu lạc bộ máy tính Homebrew. Anh tham gia vào các buổi họp mặt buổi tối, và đã có dịp thấy một thành viên khoe chiếc máy tính cá nhân mạnh mẽ hiệu Altair của mình. Chiếc máy đời đầu này được lắp ráp từ một bộ gồm nhiều sản phẩm được đặt mua qua một công ty đặt hàng thư tín ở Albuquerque, và đối với những thành viên của câu lạc bộ Homebrew thì thiết bị này thật thời thượng. Hầu hết những người có mặt ở đó đều thấy được tiềm năng của chiếc máy. Còn Jobs thì nghĩ đến một kế hoạch kinh doanh đầy táo bạo và hấp dẫn.
Thiếu kỹ năng cơ khí, máy móc cần thiết để biến ý tưởng thành hiện thực, Jobs rủ một thành viên tóc dài khác của Homebrew tên là Steve Wozniak cùng tham gia với mình. Chàng trai 25 tuổi này - vốn là con một kỹ sư tên lửa của Hãng Lockheed - có tên gọi thân mật là “Woz”, đã viết được ngôn ngữ lập trình và thiết kế thành công một bo mạch. Anh cũng theo đuổi niềm đam mê điện tử của mình với công việc tại một công ty tiên phong ở thung lũng Silicon có tên là Hewlett-Packard, nhưng anh nhận thấy tiềm năng rất lớn trong những gì mà Jobs đã mường tượng ra. Để thu gom đủ số tiền cần thiết để bắt tay vào công việc, anh đã bán chiếc máy tính có chức năng lập trình của mình, trong khi Jobs nói lời tạm biệt với chiếc xe tải nhỏ hiệu Volkswagen của anh ta. Hai người này lập tức bắt tay vào gầy dựng sự nghiệp kinh doanh trong gara của cha mẹ Jobs tại Los Altos.
Sản phẩm đầu tiên ra đời với sự hợp tác của họ là chiếc máy tính Apple I, một thiết bị có nền tảng là bảng mạch điện tử mà họ đã bán được thông qua một nhà bán lẻ địa phương với giá… 500 đôla. Tuy đã sẵn sàng chuyển sang bước tiếp theo trong công việc kinh doanh nhưng lại nhận thấy được giới hạn của mình, họ đã thuyết phục một người đàn ông 34 tuổi tên là Mike Markkula tham gia cùng họ. Markkula vừa chấm dứt làm kỹ sư điện tử cho Intel, một công ty có giá trị nhiều triệu đôla. Wozniak tập trung xử lý những vấn đề về kỹ thuật, Jobs và Markkula thu thập tiền mặt và vay vốn, họ mở một văn phòng Cupertino, và chính thức hợp tác với nhau vào ngày 3/1/1977.
Chiếc máy tính thật sự đầu tiên của họ, chiếc Apple II, được ra mắt khoảng 15 tháng sau đó. Hầu như chỉ có Woz đảm đương trọng trách phát triển chiếc máy này. Nó ra mắt lần đầu tiên vào năm 1978 tại lễ khai mạc hội chợ máy tính West Coast. Các nhà quan sát ngay lập tức bị mê hoặc bởi cỗ máy tích hợp màn hình, bàn phím, nguồn điện và khả năng đồ họa mạnh mẽ này. Doanh thu hàng năm của công ty sau đó đạt đến con số 300 triệu đôla, giúp Apple lọt vào danh sách Fortune 500 và thu hút sự chú ý của giới truyền thông (cũng như những đối thủ cạnh tranh tương lai như Tandy và Commodore). Rất nhiều người nhận tài trợ cho công ty đã giúp Apple tập trung phát triển không ngừng về mặt công nghệ. Vào năm 1980, doanh thu chỉ riêng đối với các sản phẩm máy tính cá nhân đã đạt đến con số 1 tỷ đôla.
Khi Apple đã nắm giữ hơn 15% thị trường kinh doanh máy tính và ngày càng lớn mạnh thì IBM mới muộn màng nhận ra rằng họ không thể phớt lờ ngôi sao đang lên này. Khi ông trùm của những máy tính khổng lồ (mainframes) nhảy vào thị trường máy tính để bàn, hình ảnh chuyên nghiệp (suit-and-tie) của họ (chưa nói đến tiếng tăm lâu đời về máy móc điện tử) thì ngành kinh doanh này trở nên nóng bỏng. Sự hấp dẫn một thời của Apple và đà phát triển của họ đột nhiên bị chững lại. Sự thật là, thị trường kinh doanh máy tính đã trở thành một vách đá dựng đứng rất khó chinh phục.
Nhưng Jobs và cả Apple vẫn tin rằng họ sẽ chiến thắng. Họ duy trì một cách bướng bỉnh hình ảnh một công ty không cổ phần hóa và điều này làm cho sự khác biệt giữa họ với những công ty có lượng sản phẩm bán ra nhiều nhất ngày càng rõ rệt và họ đánh mất dần thị phần. Trong hoàn cảnh đó, họ vẫn cố duy trì vị trí dẫn đầu của mình về mặt công nghệ.
Bước cải tiến mạnh mẽ tiếp theo của công ty được bắt đầu không lâu sau khi Jobs tham quan trung tâm nghiên cứu Palo Alto của Xerox (PARC) vào năm 1979. Xerox đã sản xuất ra một trong những chiếc máy tính đầu tiên có tên gọi Alto, đây là chiếc máy đầu tiên sử dụng cả chuột và giao diện đồ họa.
Sau cùng ông đã kết hợp giao diện đồ họa mang tính cách mạng này (được phát triển nhưng chưa bao giờ sử dụng bởi phòng nghiên cứu PARC huyền thoại) vào lần giới thiệu sản phẩm lớn thứ ba của Apple – chiếc máy tính Lisa (được đặt tên theo đứa con gái của ông). Lisa là chiếc máy tính thương mại đầu tiên kết hợp hai ý tưởng này lại với nhau. Với nó, ông đã vẽ nên một đường ranh giới rõ ràng giữa tập đoàn Apple của mình và các đối thủ truyền kiếp cùng lĩnh vực. Nhưng dù Lisa có là một kỳ quan về mặt công nghệ và là một thành quả tuyệt vời đi chăng nữa, thì cái giá 10.000 đôla của nó là quá khả năng người tiêu dùng. Mặt khác, những chiếc máy tính cá nhân mới ra mắt của IBM đã được mua sạch.
apple-steve-jobsApple vội vàng tìm cách giải quyết. Một nhóm kỹ sư hàng đầu của công ty đã nghiên cứu chế tạo một chiếc máy tính hoàn toàn khác biệt có tên gọi là Macinstosh; trong khi Jobs đang mê mải với chiếc Lisa. Macintosh dựa trên nền tảng công nghệ bấm - và kéo mà trẻ con cũng có thể sử dụng được. Trong một bước đi sẽ chia cắt Apple thành nhiều phe phái nhỏ, Jobs đã đơn phương chiếm hữu dự án Macintosh sau bị cách chức vì Lisa không mang lại thành công. Ông bỏ qua những khó chịu cùng vai trò lãnh đạo của mình và đặt lại nhóm phát triển phát triển sản phẩm vào đúng vị trí, dựng lên một lá cờ hải tặc, và giương cao khẩu hiệu “máy tính cho phần còn lại của chúng ta".
Mẩu quảng cáo đầu tiên của họ, một trong những mẩu quảng cáo nổi tiếng nhất từng được thực hiện, được thiết kế để dẫn dắt người tiêu dùng theo một hướng đi rõ ràng: Hoặc sử dụng máy tính của Apple, hoặc của IBM. Và thông điệp năm 1984 đó vẫn rất rõ ràng cho đến ngày hôm nay. Đây là lời tuyên bố cố ý chống lại thế giới máy tính đang bị thống trị bởi máy tính Big Blue của IBM – mà trong quảng cáo bị một người phụ nữ yêu tự do giáng một đòn chí tử bằng một cây búa tạ.
Đoạn phim quảng cáo đó được dàn dựng bởi Ridley “Blade Runner” Scott tốn 1 triệu đôla, và chỉ được phát sóng một lần. Mẩu quảng cáo làm nhiều ủy viên ban quản trị công ty cảm thấy căng thẳng và người hâm bóng đá Mỹ ngạc nhiên, nhưng sự thật là nó đã được xem bởi gần một nửa số hộ gia đình Mỹ. Sáng hôm sau, khi Jobs chính thức công bố đứa con mới ra đời nặng gần 10 kg và có giá 2.495 đôla đó, công chúng đã được chuẩn bị và sẵn sàng. Apple tuyên bố rằng 72.000 chiếc máy Mac đã được bán sạch chỉ trong vòng 100 ngày. Trong một năm, doanh thu của công ty tăng lên đến con số 2 tỷ đôla. Điều này đã thay đổi mọi thứ về hệ điều hành máy tính. Người ta chuyển từ hệ điều hành DOS với những dòng lệnh khó nhớ sang các thao tác bằng tay với cửa sổ và biểu tượng vô cùng trực quan.
Những thập niên kể từ khi chiếc máy Mac ra đời là những năm tháng thăng trầm của Apple. Sự ra đời của Macinstosh là điểm sáng cuối cùng của công ty trong vòng hơn một thập kỷ. Woz đã thực sự thay đổi nhiều sau khi công trình tim óc của ông cất cánh. Ông lấy được một tấm bằng kỹ sư, biểu diễn nhạc rock và dạy bọn trẻ về máy tính. Jobs bị thay thế một cách phũ phàng bởi John Sculley, một ủy viên hội đồng quản trị cũ của tập đoàn Pepsi, được mời về Apple để củng cố hình ảnh của công ty trên thị trường chứng khoán. Chỉ mới 30 tuổi và khá giàu có, Jobs không chờ lâu trước khi bắt đầu một công ty máy tính tiên tiến với tên gọi NeXT. Ông cũng mua lại xưởng làm phim hoạt hình Pixar, nơi mà sau này sẽ sản xuất ra những bộ phim gây tiếng vang lớn như "Thế giới côn trùng" hay "Câu chuyện đồ chơi".
Apple tiếp tục gặp nhiều khó khăn. IBM không thể giữ được lợi thế của mình trong thị trường máy tính để bàn khi những bản sao giá thấp các dòng sản phẩm của nó tràn ngập thị trường. Dù vậy, những quy ước về công nghệ mà họ đã xác lập - dù rõ ràng là thua kém Apple - đã trở thành một chuẩn mực không thể bác bỏ. Hơn 95 trong số mỗi 100 khách hàng đều bắt đầu chọn sử dụng một chiếc máy tính “tương thích với IBM”, làm những sản phẩm của Apple bị phủ đầy bụi trên các kệ bán hàng. Cuối cùng Sculley bị thay bởi Michael Spindler, người sau đó lại bị thay bởi Gil Amelio. Vào tháng 7/1997, Amelio lại bị cho ra rìa và người hùng bị quên lãng Steve lại được đón chào quay về một lần nữa với cương vị Chủ tịch Hội đồng quản trị “lâm thời”.
Một ngày sau sự trở về của mình - vì điều này ông được thưởng một cổ phần và mức lương đôla một năm – Jobs bắt tay vào việc và sản xuất ra một thiết bị một lần nữa lại thay đổi thế giới - Chiếc iMac. Sự ra mắt của chiếc máy tính trong suốt này một năm sau đó đã giúp Apple lấy lại ngôi đầu bảng trong lĩnh vực công nghệ, doanh thu của công ty cũng như giá trị cổ phiếu của nó trên thị trường chứng khoán tăng vọt. Không lâu sau, vào tháng 1/2000, Hội đồng Quản trị công ty đã nhất trí thưởng cho nỗ lực của Jobs bằng một chiếc máy bay phản lực Gulfstream V và 10 triệu đôla trong quyền ưu tiên mua cổ phiếu của Apple. Để đáp lại, ông đã bỏ từ “lâm thời” ra khỏi chức danh của mình.
Trở lại Apple lần này, Steve Jobs đã tiếp tục làm thế giới rúng động với những màn trình diễn thông qua bộ óc siêu việt của mình.
Đầu tiên, Steve tiến hành mua lại một loạt công ty trong ngành và nhắm vào các sản phẩm tiêu dùng kỹ thuật số chuyên nghiệp. Năm 1998, Apple mua phần mềm Macromedia's Final Cut. Đây là tín hiệu đầu tiên trong việc thâm nhập thị trường kỹ thuật số của họ. Năm tiếp theo, Apple cho ra đời hai sản phẩm: iMovie cho người tiêu dùng phổ thông và Final Cut Pro cho giới làm phim chuyên nghiệp, trong đó Final Cut Pro đã thành công lớn với 800.000 người đăng ký sử dụng tính đến đầu năm 2007.
Ngày 19/5/2001, Apple mở các cửa hàng bán lẻ chính thức đầu tiên của mình tại hai bang Virginia và California. Sau đó là sự xuất hiện Cửa hàng Apple, bằng kính trong suốt với thang máy hình trụ và cầu thang xoắn dẫn vào bên trong, trên Đại lộ số 5, New York. Sự kiện này làm sửng sốt cả các nhà đầu tư lẫn người tiêu dùng lúc bấy giờ.
Năm 2002, Apple mua Nothing Real và nâng cấp thành Shake, Emagic thành Logic. Hai ứng dụng này và iPhoto đã hoàn chỉnh bộ sưu tập nổi tiếng về các phần mềm dành cho người tiêu dùng phổ thông có tên gọi là iLife của hãng Apple.
Ngày 9/1/2007, Steve Jobs thông báo thay đồi tên tập đoàn từ Apple Computer Inc. thành Apple Inc., cùng lúc là buổi giới thiệu một sản phẩm Apple mới, một lần nữa sẽ làm điên đảo cả thế giới: iPhone. Dù iPhone chỉ được tung ra thị trường vào tháng 6/2007, nhưng ngay lập tức, cổ phiếu của Apple tăng lên mức kỷ lục là 97,80 đôla và vượt qua mức 100 đôla Mỹ vào tháng 5/2007.
Tháng 2/2007, Apple có ý bán nhạc qua iTune Store mà không phải trả tiền bản quyền nhạc số nếu các tên tuổi lớn trong ngành thu âm chịu từ bỏ công nghệ chống sao chép trực tuyến. Tuy nhiên, chỉ có Hãng thu âm EMI đồng ý hợp tác với Apple vào tháng 2/2007 qua một thỏa thuận có hiệu lực kể từ tháng 5/2007.
Và, đúng như tuyên bố của Steve Jobs vào đầu năm, cuối tháng 6/2007, tiếp theo sự thành công vang dội của iPod, Apple tung ra thị trường Mỹ sản phẩm được hàng triệu người trông đợi: iPhone, thiết bị truyền thông đa phương tiện không phím, bộ nhớ chỉ có 8Gb và màn hình 3,5” cảm ứng tuyệt đối sử dụng thao tác “sờ” và “vuốt”. Đây là sản phẩm “đinh” của thế giới trong năm 2007, ứng dụng công nghệ siêu cảm ứng có thể thực hiện mọi mệnh lệnh từ thao tác cùng lúc ở cả ba ngón tay người sử dụng như: cuộn, phóng to - thu nhỏ, và xoay tròn các hình ảnh trên màn hình theo ý muốn. Đây thực sự là một sản phẩm công nghệ cao đầy quyến rũ và dễ sử dụng đến mức… kinh ngạc! Một sản phẩm có khả năng làm thay đổi các khái niệm và nhận thức thông thường của chúng ta về điện thoại di động, máy quay phim chụp ảnh, máy nghe nhạc và cả máy vi tính.
Trong năm 2008, Apple sẽ giới thiệu trackpad dành cho các dòng máy laptop Apple trong tương lai, sử dụng công nghệ đa cảm ứng (multi-touch technology) mà họ từng ứng dụng vào các máy iPhone của mình.
Với khả năng điều hành xuất sắc và tinh thần theo đuổi sự hoàn mỹ tuyệt đối, Steve Jobs, linh hồn của Apple Inc., thậm chí còn được ví như một “Jobs Christ”, “Đấng cứu nạn… thất nghiệp” của nhân loại. Và điều này hình như có phần đúng.
Bất kể tia sét kỳ diệu kia có giáng xuống lần nữa trên cùng một tập đoàn hay không, tài năng của Jobs đến đây đã được khẳng định. Steve Jobs đã chứng minh rằng mỗi bước đi của ông và Apple là một “phép lạ”; và, câu chuyện cổ tích hiện đại này vẫn chưa đến hồi kết thúc.
(Trích cuốn sách "50 công ty làm thay đổi thế giới" do First News phát hành)
(Phương Trinh -
Theo Vnexpress)

Trung thành thương hiệu – Chìa khoá làm nên thành công của Apple?

Apple vừa ra mắt một cập nhật phần mềm nhằm khắc phục tình trạng hao pin của dòng máy iPhone 4S mới. Sự cố này đã làm dấy lên làn sóng chỉ trích của người tiêu dùng và giới phê bình trên khắp thế giới.apple-logo copy
Thực tế, Apple phải mất đến vài tuần mới thừa nhận trục trặc này. Và sự cố mới chỉ là một trong những lỗi liên quan đến hệ điều hành iOS 5 mới. Giờ đây, tất cả đã được khắc phục theo tuyên bố của gã khổng lồ Apple.
Tuy nhiên, liệu trục trặc này có làm ảnh hưởng đến danh tiếng của Apple không? Liệu có làn sóng phản đối này bắt đầu dấy lên không? Liệu ở đâu đó người tiêu dùng có tẩy chay Apple không? Liệu đội ngũ PR của Apple có đang lâm vào tình cảnh hoang mang không? Câu trả lời dường như là: Không!
Bạn thấy đó, bất cứ khi nào sản phẩm của Apple gặp sự cố, khách hàng của họ luôn kiên nhẫn và vị tha. Họ hiểu rằng đôi khi trục trặc có thể phát sinh và họ vẫn sẽ tiếp tục mua các sản phẩm của Apple bất chấp những sự cố như thế.
Tại sao khách hàng của Apple lại trung thành đến vậy?
Có lẽ lý do chính đến từ vị Giám đốc điều hành vĩ đại đã quá cố – Steve Jobs. Apple là Steve Jobs. Steve Jobs là Apple. Mọi người cảm giác như có một mối quan hệ thân thiết với Apple bởi lẽ Steve Jobs chiếm một vị trí nhất định trong tâm trí họ.
Và khi bạn nghĩ về niềm đam mê, nhiệt huyết cháy bỏng của Steve với Apple cũng như khát khao tạo ra những sản phẩm không chỉ vượt trội về chất lượng mà còn độc đáo về thiết kế, bạn sẽ hiểu tại sao khách hàng của Apple luôn sẵn sàng thứ tha.
Bằng cách xây dựng mối liên hệ cảm tính với khách hàng, Apple đã làm được những điều tưởng chừng như không thể – sự ủng hộ trung thành. Sự trung thành với thương hiệu đã đóng một vai trò quan trọng trong thành công của Apple. Chúng ta có thể khẳng định điều đó.
Nếu khách hàng có thể khoan dung với những thương hiệu đôi khi gặp phải sự cố, vậy làm thế nào để bạn đảm bảo thương hiệu của mình cũng thu hút sự quan tâm như thế?
Trước tiên, bạn phải xây dựng mối quan hệ với khách hàng. Điều đó có nghĩa bạn phải đáng tin cậy và minh bạch. Bạn có thể thực hiện điều đó thông qua kết nối Internet và truyền thông xã hội. Bạn có thể bắt đầu sử dụng blog. Bạn có thể trò chuyện trực tiếp với mọi người trên Twitter. Bạn có thể dùng Facebook để thể hiện hình ảnh thương hiệu nhiều hơn. Tất cả những phương tiện đó đều rất phổ biến. Một ví dụ mới đây mà chúng tôi có dịp trải nghiệm lần đầu là cùng làm việc với khách hàng ở tận Pamper (Mỹ) và liên kết cùng đội ngũ truyền thông nội bộ của họ. Rất nhiều khó khăn đã được giải quyết thông qua một chiến lược khôn ngoan và phương pháp sử dụng truyền thông xã hội hợp lý.
Điều thứ hai và cũng chính là chìa khoá dẫn đến trung thành thương hiệu là bạn phải tiến hành chiến dịch marketing phong trào. Đừng nói mãi về những thứ công ty bạn cung cấp, thay vào đó, hãy nói về những thứ mà bạn tin vào. Và điều mà bạn tin tưởng phải chạm đến suy nghĩ, cảm xúc của khách hàng mục tiêu.
Steve Jobs đã thực hiện điều này một cách tuyệt vời. Steve nói với cả thế giới rằng ông tin vào những sản phẩm đột phá, chất lượng cao và sẽ không ngừng phấn đấu để mang công nghệ tuyệt vời nhất đến thị trường. Thực tế, tuyên ngôn sứ mệnh của Apple không thực sự nói về thứ mà Apple cung cấp, nó nói về điều mà Apple tin tưởng.
Tuyên ngôn nói rằng: “Apple cam kết mang đến những trải nghiệm máy tính cá nhân tuyệt vời nhất cho học sinh, sinh viên, nhà giáo, chuyên gia sáng tạo và người tiêu dùng trên khắp thế giới thông qua phần cứng, phần mềm và những dịch vụ Internet vượt trội.”
Với tuyên ngôn đầy cảm hứng này, hãy thử xem điều gì làm nên thương hiệu của bạn. Nếu bạn là một công ty sản xuất xe hơi, đừng gửi những thông điệp theo kiểu “Chúng tôi bán xe hơi!” Hãy nghĩ về một thứ gì đó có khả năng tác động đến cảm xúc của khách hàng, một thứ gì đó bắt nguồn từ chính văn hoá thay về bản thân sản phẩm… và đi theo con đường ấy. Ví dụ như chiến dịch truyền thông của dòng xe mini Smart Car tại Mỹ với khẩu hiệu: “Against Dumb” (Chống lãng phí) kêu gọi người dân Mỹ tiết kiệm mua sắm, tránh “vung tay quá trán”.
Bất kể thứ bạn chọn là gì, nó cũng phải xuất phát từ chính cốt lõi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sẽ chẳng có tác dụng gì nếu bạn tuyên bố tin vào hoạt động bảo vệ môi trường nếu công ty bạn lãng phí hàng tấn giấy mỗi năm.
Apple thành công trên toàn thế giới bởi tuyên ngôn sứ mệnh của hãng là lan tỏa trên mọi hoạt động của công ty. Sự trung thành thương hiệu bắt nguồn từ chính nội lực công ty. Doanh nghiệp không thể đánh lừa người tiêu dùng và sự trung thành cũng không bao giờ đến một cách dễ dàng.
Người tiêu dùng mua sản phẩm của Apple hiểu được niềm đam mê và sự tận tâm trong việc tạo ra những sản phẩm đó. Họ đồng nhất Steve Jobs với Apple, cảm thấy như thể họ có kết nối cảm xúc với Apple. Và đó là lý do tại sao họ sẵn sàng bỏ qua cho những lỗi sản phẩm của Apple.
Nhưng, sự trung thành của người tiêu dùng với một thương hiệu không chỉ là chuyện bỏ qua lỗi sản phẩm. Điều đó còn đồng nghĩa với việc người tiêu dùng không mua hàng của công ty khác, ngay cả khi các sản phẩm khác có giá rẻ hơn. Sự trung thành này sẽ giúp doanh nghiệp giữ doanh thu ở mức cao và duy trì thị phần. Từ đó, chúng ta có thể hiểu tại sao tạo dựng sự trung thành với thương hiệu là mối ưu tiên hàng đầu của bất cứ doanh nghiệp nào.
Nếu bạn muốn có những tín đồ thương hiệu, hãy khám phá cách thức kết nối với khách hàng và khởi đầu một trào lưu mà bạn tin tưởng. Mọi người chắc chắn sẽ theo chân bạn.
(Thanh Phương -
Theo Branddance/Tạp chí Forbes)

Bí mật thành công của thương hiệu Apple

Từ một công ty không có mấy tên tuổi cách đây 28 năm, giờ đây Apple đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng được cả thấy giới công nghệ biết đến và vô cùng ngưỡng mộ bởi chiến lược kinh doanh tài tình, sự phá cách trong thiết kế, và luôn mang đến những sản phẩm làm hài lòng người tiêu dùng.
steve-jobs-apple-brand
Steve Jobs - "linh hồn" của Apple.
Năm 2008, Apple được tạp chí Fortune tôn vinh là công ty được ngưỡng mộ nhất tại Mỹ với doanh thu hàng năm đạt trên 32 tỉ USD. Các sản phẩm “bom tấn” của Apple như Mac, iPod, iPhone… được cả thế giới công nghệ tôn vinh và thán phục vì tài thiết kế.  Vậy đâu là yếu tố dẫn tới sự thành công của Apple ngày nay? Sự lớn mạnh của Quả táo phần lớn là nhờ vào “linh hồn” của hãng này – Steve Jobs, một trong số những CEO tài tình nhất hiện nay.
Đi sâu vào tìm hiểu Apple, chúng ta sẽ rút ra những bài học hữu ích cho các doanh nghiệp muốn vươn lên trên thương trường hiện nay. Hiểu được cách thức suy nghĩ của Apple khi thiết kế sản phẩm sẽ giúp chúng ta thấy được định hướng và hình hài các sản phẩm mà hãng này sẽ tung ra trong thời gian tới đây.

Tầm nhìn chiến lược

Trong gần 30 năm qua kể từ khi thành lập công ty cho tới nay, Apple đã trải qua 5 đời CEO, bắt đầu là  Steve Jobs và kết thúc cũng là Steve Jobs kể từ khi ông quay lại nắm quyền vào năm 1997. Mỗi thời CEO đều có suy tính, tầm nhìn và mục tiêu khác nhau nhưng tựu chung đều muốn đưa Apple trở thành một đế chế hùng mạnh trong ngành công nghệ.
Như đã nói, mỗi thời tầm nhìn của Apple lại khác nhau, tùy thuộc vào từng vị CEO. Tuy nhiên, kể từ sự trở về của Steve Jobs, Apple luôn phát triển bền vững với các mục tiêu rõ ràng, rành mạch, và nếu nghiên cứu sâu về Apple thì bạn hoàn toàn có thể nắm bắt và dự báo trước được xu hướng này. Trong phần bài viết này sẽ đề cập tới các nguyên tắc cơ bản, hướng tiếp cận của Google trong lĩnh vực kỹ thuật số, hay nói cách khác đó chính là tầm nhìn của Google về thế giới xung quanh.
Trong ngày đầu tiên Steve Jobs quay trở lại Apple với cương vị CEO, ông từng nói rằng hãng cần phải thay đổi cách thức đáp ứng nhu cầu của khách hàng trọng điểm, đồng thời phải chú trọng tới cả các thiết kế công nghiệp. Hai năm sau, Jobs đã giới thiệu mẫu máy tính iMac nổi đình nổi đám, và thiết kế công nghiệp của chiếc PC này vẫn được xem là chuẩn thiết kế các sản phẩm tương tự của Apple ngày nay.
Apple

apple-logo- Thành lập: 1/4/1976
- Sáng lập: Steve Jobs, Steve Wozniak, và Ronald Wayne
- Trụ sở: Cupertino, California, Mỹ
- Ban lãnh đạo: Steve Jobs (CEO, Chủ tịch và Đồng sáng lập), Tim Cook (Giám đốc hoạt động kiêm CEO), Peter Oppenheimer (Giám đốc tài chính)…
- Lĩnh vực hoạt động: Phần cứng máy tính; phần mềm; thiết bị điện tử tiêu dùng.
- Các sản phẩm chủ chốt: Mac (Pro, Mini, iMac, MacBook, Air, Pro - Xserve) iPhone, iPod (Shuffle, Nano, Classic, Touch) Apple TV, Cinema Display, AirPort, Time Capsule Mac OS X (Server - iPhone OS), iLife, và iWork.
- Các dịch vụ: Cửa hàng bán lẻ, trực tuyến, iTunes, App, MobileMe.
- Doanh thu: 32,48 tỉ USD (năm 2008)
- Nhân viên: 35.000 người (tính tới quý 1 năm 2009)
- Website: www.apple.com
Sự thay đổi về tầm nhìn của Apple còn được phản ánh qua các logo của hãng này. Tính cho tới nay, Apple đã thay đổi logo đến … 5 lần và mỗi lần đều lấy cảm ứng từ những sản phẩm thiết kế trọng tâm. Logo đầu tiên của Apple mô phỏng quá táo trong câu chuyện của Isaac Newton. Logo thứ hai là hình quả táo cắn dở màu cầu vồng, được sử dụng từ năm 1976 – 2002. Logo thứ ba vẫn là hình quả táo cắn dở màu đen được sử dụng từ cuối năm 1970 cho tới nay (với các phiên bản màu sắc khác nhau). Logo thứ tư được thiết kế cách điệu hơn, sử dụng từ năm 2001 tới 2007. Và logo cuối cùng có thiết kế bóng bảy hơn, được sử dụng từ năm 2007 tới nay.

Trung tâm cuộc sống số

Phát biểu tại Hội nghị Mac World tháng giêng năm 2001, Jobs khẳng định rằng ông muốn Mac trở thành trung tâm của cuộc sống số. Quan điểm này cũng phản ánh chiến lược của Apple ngày nay và trong cả tương lai sắp tới.
Jobs và công ty có một vị trí rất quan trọng trên thị trường, kiểm soát gần như tất cả phần cứng, phần mềm và dịch vụ sinh thái. Phần cứng máy tính là trọng tâm trong chiến lược của Apple, tuy nhiên giờ đây các dịch vụ của Apple có thể truy xuất trên PC (chứ không riêng gì máy Mac) nên khái niệm “cuộc số sống” sẽ mở rộng ra khỏi phạm vi máy Mac. Vấn đề còn lại giờ đây chỉ còn thiết kế công nghiệp cải tiến và trải nghiệm dễ sử dụng của máy Mac trong trung tâm cuộc sống số.
Vậy những yếu tố này sẽ được áp dụng như thế nào trong các sản phẩm của Apple? Hãy thử tưởng tượng Mac là trung tâm của gia đình số, và được thiết kế kết nối với TV, smartphone, máy nghe nhạc MP3, máy ảnh số, máy quay số, và bất cứ sản phẩm số nào khác. Khi Jobs đưa ra tầm nhìn này, ông không  đề cập nhiều tới yếu tố thị trường mà chỉ đặt ra các nền tảng phát triển sản phẩm, và thực tế những sản phẩm của ông đều mang tính chiến thuật và có phương pháp tiếp cận hoàn hảo. iPhoto và iMovie được coi như 2 ứng dụng quan trọng đầu tiên trong chiến lược cuộc sống số của Apple. Cuối năm 2001, phần mềm của Apple đã được hoàn thiện thêm một bước để quản lý cuộc sống số của người dùng, chẳng hạn như các công cụ quản lý ảnh, xây dựng phim, mua sắm và quản lý nhạc, thậm chí là cả phần mềm phát nhạc.

Thành công nối tiếp thành công

ipod-apple-brandĐến năm 2007, Apple lại tiếp tục gây tiếng vang lớn khi lần đầu tiên nhảy vào lĩnh vực điện thoại di động mà đã thành công với mẫu iPhone “bom tấn”. Một lần nữa kịch bản thành công của Apple lại lặp lại, và chiếc iPhone cũng chỉ là một thiết bị khác để nâng cao trải nghiệm Mac trong hệ thống sinh thái số của Apple. Nếu Mac là trung tâm thì iPhone (cũng như iPod) là các vệ tinh lịch lãm được thiết kế tương tác đồng bộ với hệ thống Mac, và giúp lôi kéo người dùng đến với thế giới Apple.
MacBook Air cũng là một câu chuyện thành công khác của Apple. Chiếc laptop siêu mỏng siêu nhẹ này đang được coi là chuẩn thiết kế cho các hãng sản xuất laptop noi theo. Mặc dù tới đã có nhiều chiếc laptop dập khuôn theo kiểu MacBook Air nhưng sản phẩm này vẫn được coi là nguồn cội của cảm hứng thiết kế lấy yếu tố “siêu di động” làm trọng tâm.
Điểm đáng chú ý tiếp theo chính là nỗ lực nâng cao trải nghiệm sử dụng máy Mac của người dùng. Để làm được điều này, Apple đã tạo ra nhiều dịch vụ chạy trên nhiều nền tảng điện toán khác nhau. Ở trung tâm của nền tảng này là iTunes, giúp cung cấp nội dung số cho iPhone và iPod. Với iTunes, Apple có thể tạo ra các sản phẩm vệ tinh mới để kết nối với dịch vụ này. Trong số đó quan trọng nhất có lẽ là MobileMe, một dạng dịch vụ “đám mây” có khả năng sao lưu và chia sẻ nội dung trên cùng nền tảng. Apple muốn trở thành nhà cung cấp chính các dịch vụ để các thành viên và gia đình truy cập vào nội dung số của họ trên máy Mac, PC hoặc từ “đám mây”.
Là hãng đầu tiên tung ra dạng cửa hàng ứng dụng trực tuyến – App Store nên Apple đã thu được rất nhiều kinh nghiệm, và quan trọng hơn là hãng này đã kinh doanh rất thành công. Dự kiến tới cuối năm nay, Apple sẽ thu được 1 tỷ USD hoặc hơn từ tiền bán phần mềm trên kho ứng dụng trực tuyến App Store. Năm 2008, Apple thu được 203 triệu USD từ App Store; và chỉ riêng 30 ngày đầu tiên ra mắt 30 triệu USD đã đổ vào kho dịch vụ này.
Tuy gốc gác là một công ty phần cứng nhưng lĩnh vực ăn nên làm ra nhất hiện nay của Apple lại là phần mềm và dịch vụ. Với mục tiêu biến Mac trở thành trung tâm của chiến lược tổng thể, Apple đã tạo ra và thiết kế các sản phẩm và dịch vụ để mở rộng trải nghiệm tới người dùng mới và dịch vụ mới.
(Tuấn Anh -
Theo Vnmedia)

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2012

10 sự thật khó tin về giá trị của Apple

Nước Mỹ có bán tất cả số vàng dự trữ cũng không mua nổi Apple, sau khi giá trị thị trường của công ty lớn nhất hành tinh vượt mốc 570 tỉ USD.

1. Nếu Apple là một đất nước

Hiện nay trên thế giới, chỉ có 18 quốc gia có GDP trên 500 tỉ USD. Trong khi đó, giá trị thị trường của Apple hiện đã vượt 570 tỉ USD, cao hơn GDP năm 2010 của nhiều nước như Ba Lan (469,4 tỉ USD), Bỉ (469,3 tỉ USD), Thụy Điển (458,9 USD) và cả Ảrập Xêút (434,6 tỉ USD). Nếu lấy giá trị thị trường của Apple như là GDP của một quốc gia, đây sẽ là quốc gia lớn thứ 18 trên thế giới.

2. So sánh với các thành phố Mỹ

So sánh giá trị của Apple với tổng sản lượng hàng năm của các các thành phố lớn nhất nước Mỹ cũng có thể hình dung được độ lớn của Apple. Hiện nay tổng giá trị của Apple gần tương đương tổng sản phẩm cả năm (GMP) của thành phố Chicago, gấp 2 lần GMP của Miami. Tại Mỹ, chỉ có 2 thành phố có tổng sản phẩm cả năm cao hơn giá trị thị trường của Apple là New York và Los Angeles.

3. So sánh với đồng đô la Mỹ

Nếu ai đó sở hữu tất cả các tờ giấy bạc mệnh giá nhỏ từ 1 USD, 2 USD, 5 USD, 10 USD và 20 USD đang lưu thông trên toàn cầu, họ cũng không đủ tiền mua nổi Apple. Theo thông tin từ Cục Dự trữ liên bang Mỹ, tổng giá trị của toàn bộ đồng đôla đang lưu hành là 1.034 tỉ USD tính đến cuối năm 2011, trong đó, phần lớn giá trị nằm ở các đồng 100 USD. Tổng giá trị những tờ mệnh giá dưới 100 USD chỉ 252,8 USD, chưa mua được một nửa Apple theo giá trị thị trường hiện nay.

4. So sánh với các công ty S&P 500

Hiện nay, Apple là công ty có giá trị thị trường lớn nhất thế giới. So với những công ty cùng lĩnh vực trong bảng theo dõi của S&P 500, Apple giá trị cao gấp 16,2 lần Dell, lớn gấp 10,1 lần so với HP. Trong phiên giao dịch hôm 25/4, giá trị thị trường của Apple đã đạt con số 570 tỉ USD, nhiều hơn cả Google, Microsoft, HP, Dell và Yahoo cộng lại.
Trên thực tế, trong lịch sử hiếm có công ty nào vượt mốc 500 tỉ USD như Apple. Trước đó từng có 5 công ty chạm mốc này nhưng đều đi xuống sau đó như Microsoft (giá trị thị trường 615 tỉ USD vào tháng 12/1999) hay General Electric (594 tỉ USD vào tháng 8/2000).

5. Doanh thu của bang California

Với 97,6 tỉ USD trong két, Apple hiện sở hữu nhiều tiền mặt hơn số tiền thuế bang California thu được trong năm 2011. Theo thông tin từ California, nơi Apple đặt trụ sở chính, năm tài chính 2010- 2011 doanh thu từ thuế của bang này đạt con số xấp xỉ 93,49 tỉ USD, vẫn thấp hơn 4 tỉ USD so với lượng tiền mặt của Apple.

6. Sản lượng dầu thô của Ảrập Xêút

Ảrập Xêút là nhà sản xuất dầu lớn nhất hành tinh chiếm 17% trữ lượng của thế giới. năm 2010, sản lượng dầu của nước này đạt 10,52 triệu thùng mỗi ngày. Với giá dầu thô ở mức 107 USD một thùng như hiện nay, nước này sẽ mất 87 ngày sản xuất liên tục mới kiếm đủ tiền mặt tương đương với Apple. Giả sử Ảrập Xêút muốn mua đứt Apple, họ sẽ phải sản xuất liên tục không nghỉ với sản lượng tối đa trong 15 tháng và không được chi tiêu tiền bán dầu vào bất cứ việc gì.

7. Vàng tại Cục Dự trữ New York

Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ tại New York có nhiều vàng trong kho hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới, thậm chí nhiều hơn cả Fort Knox, tức Kho vàng Liên bang Mỹ đóng tại bang Kentucky. Sở dĩ chứa nhiều vàng vì Cục Dự trữ New York còn giữ hộ vàng cho nhiều chính phủ, ngân hàng trung ương nước ngoài, các tổ chức trên thế giới chứ không chỉ chứa vàng của Mỹ. Tính đến năm 2008, tại đây chứa khoảng 216 triệu ounce vàng, tính theo thời giá hiện nay khoảng gần 360 tỉ USD. Tuy nhiên con số này vẫn nhỏ hơn giá trị của Apple.
Hiện nay cũng không có quốc gia nào có đủ vàng dự trữ để mua 100% cổ phần của Apple. Kể cả nước nhiều vàng nhất là Mỹ cũng phải chi toàn bộ vàng và "bù" thêm 80 tỉ USD nữa mới đủ. Ngoài ra, giá trị thị trường của Apple cũng cao gấp 3 lần so với kho vàng của Đức và IMF, vốn giữ nhiều vàng thứ ba và thứ tư thế giới.

8. Thâm hụt ngân sách 2011 của Mỹ

Để ngăn chặn thâm hụt ngân sách ngày một phình to, nước Mỹ có thể phải viện đến nhiều biện pháp như cắt giảm chi tiêu. Hiện tổng số nợ công của toàn nước Mỹ đứng ở 15.480 tỉ USD, cao gấp 31 lần giá trị của Apple. Từ 1/1/2011 đến nay, số nợ quốc gia tăng thêm 1.450 tỉ, cao gấp 3 lần giá trị thị trường của Apple.

9. Lương cả năm cho 1,43 triệu người Mỹ

Nhiều nhà đầu tư từng đặt câu hỏi Apple sẽ làm gì với lượng tiền mặt đang sở hữu. Nhiều quan chức chính phủ bày tỏ hi vọng Apple và nhiều công ty giàu tiền mặt khác sẽ giúp nước Mỹ tạo ra nhiều việc làm mới.
Theo thống kê, thu nhập bình quần đầu người năm 2010 của người Mỹ ở mức 68.259 USD. Với khoản tiền mặt 97,6 tỉ USD của Apple, số tiền này đủ để trả lương một năm cho 1,43 triệu người Mỹ. Giả sử điều này có thể thực hiện được, Apple sẽ giúp giảm 1% trên tỉ lệ thất nghiệp của toàn nước Mỹ, với hiện nay có 14,23 triệu người không có việc làm.

10. Nợ Hi Lạp

Những năm gần đây, Hi Lạp là một trong những tâm điểm nóng nhất của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu. Những biện pháp khắc khổ để cắt giảm ngân sách cùng sức ép cải cách từ cộng đồng quốc tế đã khiến chính phủ Hi Lạp đối mặt với nhiều làn sóng phản ứng mạnh mẽ của người dân. Hiện nay, khối nợ của Hi Lạp tương đương 350 tỉ EUR, hay 462 tỉ USD, vẫn thấp hơn giá trị thị trường của Apple.
Theo VnExpress

Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012

Thất bại lớn nhất của Coca-cola

Thất bại lớn nhất của Coca-cola

Thật đáng ngạc nhiên khi nhiều chuyên gia marketing cho rằng logo của Coca-cola là một trong những thất bại đáng tiếc nhất của nhãn hiệu giải khát này.
Những người phản đối logo của Coca-Cola cho rằng màu đỏ của Logo chói quá, không gợi đúng cảm xúc về thứ thức uống tươi mát, sảng khoái mà lẽ ra logo Coca-cola phải thể hiện được.
 
Những người phản đối này cũng bày tỏ là họ thích màu xanh của đối thủ Pepsi hơn.
 
Có nhà phê bình còn cho rằng: “May nhờ sản phẩm Coca-Cola đáp ứng tốt nhu cầu người tiêu dùng, chứ riêng cái logo là sự thất bại”.
 
Ngược lại, những người yêu thích thương hiệu này thì cho rằng Coca-Cola lấy màu đỏ thật ấn tượng, nổi bật, nên dĩ nhiên thành công hơn màu xanh của Pepsi.
Kể từ khi ra mắt logo của hãng trong chiến dịch quảng cáo lần đầu tiên năm 1900 đến giờ, logo của Coca-Cola vẫn được giữ nguyên với kiểu chữ uốn lượn và gam màu đỏ.
Logo Coca-Cola ra mắt lần đầu tiên năm 1990 và được giữ nguyên suốt hơn 1 thế kỉ qua.
Coca-Cola do dược sĩ John Styth Pemberton, chủ một phòng thí nghiệm và hiệu thuốc tư nhân sáng tạo năm 1892. Sau 120 năm tồn tại và phát triển, Coca-Cola được coi là một biểu tượng văn hoá tiêu dùng và ẩm thực của người Mỹ. Cứ mỗi giây đồng hồ có tới 11.200 người sử dụng thứ nước uống có gas này.
Tập đoàn Coca-Cola hiện có mặt tại 200 nước trên thế giới với trên 30.000 công nhân.
Còn số lượng những người kinh doanh, làm đại lý phân phối của hãng có thể lên đến hàng trăm nghìn người.
Điều làm nên đặc trưng lớn nhất của Coca-Cola là chất lượng luôn đảm bảo đồng nhất dù được đóng chai ở đâu hay bất kì nước nào.
Để bảo vệ và xây dựng thương hiệu, Asa Candler đã đặt riêng chai thuỷ tinh màu xanh tên Coca-Cola. Khi nước uống Coca-Cola càng nổi tiếng thì càng là đối tượng bị làm giả.
Vì vậy, năm 1916, chỉ một năm trước khi qua đời, Asa Griggs Candler đã đưa tiếp loại chai hình lọ hoa Tiffany không lẫn đi đâu được của Coca- Cola. Mẫu bao bì này được đăng ký bảo hộ độc quyền và còn được sử dụng cho đến ngày nay.
Năm 1919, những người con và cháu được huởng thừa kế của Asa Griggs Candler đã bán cả tập đoàn Coca-Cola với giá 25 triệu USD, tương đương với hơn 1 tỉ USD hiện giờ.
Theo Đỗ Hà

Thuở cơ hàn của “vua” bánh mì Sài Gòn

Thuở cơ hàn của “vua” bánh mì Sài Gòn

Kao Siêu Lực được giới buôn bánh tươi tôn làm “vua”, song ít ai biết rằng ông từng kinh qua nghề phu kéo xe, bán gạo, giao bột mì ở Sài Gòn.
Với giới doanh nhân người Việt gốc Hoa tại TPHCM, câu chuyện 26 năm theo nghề, tôn nghiệp của một người "siêu năng lực" như ông Kao dường như nhuốm màu huyền bí. Gọi là vua bánh, bởi lẽ, nếu có dịp ghé phòng làm việc của ông, không ít người choáng ngợp trước hàng chục bằng khen, cúp, huy chương quốc gia, quốc tế về nghề bánh treo dày đặc trên tường. Cô thư ký của ông tiết lộ, đó là chưa kể còn rất nhiều bằng khen cũ phải cất đi vì không đủ chỗ. Gần đây nhất, năm 2007, ông trở thành thành viên của Hiệp hội bánh mì quốc tế, đại diện Việt Nam tham gia cuộc thi làm bánh mì quốc tế tại Hong Kong và giành 2 huy chương bạc cho sản phẩm bánh mì và bánh kem các loại.
Hiện, ông là Chủ tịch Hiệp hội bánh mì châu Á. Doanh nghiệp của ông, ABC Bakery còn là nhà cung ứng vỏ bánh cho các thương hiệu nổi tiếng như KFC, Lotteria, Jolibee và chinh phục được thị trường khó tính là Nhật Bản.
Thế nhưng, dù gặt hái được nhiều thành tích, mấy ai thấu hiểu rằng chặng đường ông đi cũng không ít nhọc nhằn và đầy chông gai. Xuất thân trong gia đình gốc Hoa tại Campuchia, Kao Siêu Lực được cha cho học nghề cơ khí theo đúng nguyện vọng. Khi đất nước Angkor nổ ra chiến tranh, ông ba lần bốn lượt trở thành kẻ trắng tay dù cật lực làm việc. Loay hoay tìm chốn bình yên để an cư, Kao Siêu Lực đưa ra quyết định xoay chuyển tình thế, chọn Việt Nam làm quê hương lập nghiệp từ năm 1979.
Hồi tưởng lại những ngày đầu đến Việt Nam, ông Lực chia sẻ với VnExpress.net: "Lúc đó tôi tuyệt vọng vì không biết tiếng Việt, không họ hàng thân thích và không vốn liếng. Dạt về khu Chợ Lớn, tôi ngủ lề đường, làm phu xe để kiếm cơm qua ngày ".
Ông Kao kể lại, việc kéo xe thời đó đối với ông cũng là bài toán khó. Ông phải tranh thủ thời gian những phu xe khác nghỉ ngơi để mượn xe hành nghề, ai kêu đâu thì chạy tới đó, giao tiếp bằng tay là chính. Khách cho bao nhiều tiền cũng được, ông không biết mặc cả. Được một thời gian, đã quen đường sá và biết giao tiếp bằng tiếng Việt, ông chuyển sang nghề bán gạo. Đến khi thế giới viện trợ bột mì cho Việt Nam, người dân thi nhau đổi bột mì lấy gạo, ông chính thức sắm vai mới: thu gom và giao bột mì.
"Bị "đì" nhiều năm nhưng cuối cùng trời thương, phú cho tôi có đôi bàn tay biết cảm nhận bột mì chính xác đến từng ly. Chỉ cần sờ vào, tôi đã biết bột loại gì, tốt hay xấu, cũ hay mới. Tôi bắt đầu thấy ánh sáng cuối đường hầm từ lúc ấy", ông bồi hồi nhớ lại chuyện hơn 20 năm về trước.
Giao bột mì một thời gian, ông có dịp làm quen với giới làm bánh mì, bánh tươi và nảy ra ý định mở lò bánh năm 1982.
Thuê thợ về làm, ông cần mẫn, say mê học nghề trong vai trò vừa là ông chủ vừa là người thợ phụ việc, vừa phải chở bánh đi bán dạo khắp nơi, bỏ mối bánh thì chỉ được thu tiền sau. Phải thức dậy từ 2-3h sáng để chuẩn bị nguyên liệu, phụ gia cho thợ chính, cộng thêm việc giao bánh quá vất vả, một hôm ông ngủ quên vì mệt mỏi, kiệt sức. "Thợ đến thấy tôi không chuẩn bị gì thì mắng như té tát rồi quát tháo dọa nghỉ việc. Làm chủ mà bị coi thường, từ đó, tôi quyết tâm học nghề làm bánh cho bằng được để không ai khinh mình", ông Kao nói.
Năm 1983 lập gia đình, ông Kao cùng vợ dốc sức theo nghề bánh. Với lòng ham học hỏi, cầu thị, lại am tường về nguyên liệu làm bánh, cộng thêm có sẵn nghề cơ khí trong tay, ông nghiên cứu, chế được máy đánh trứng, tạo ra nhiều khuôn bánh hoàn hảo và liên tục cho ra đời các loại bánh mới.
Từ việc phải đi bán dạo, tìm kiếm khách hàng, cuối cùng "thượng đế" đã biết đến cửa hàng bánh của ông. Các nhà phân phối kéo đến xếp hàng lấy bánh, đơn đặt hàng ngày một nhiều. Năm 1989 thương hiệu Đức Phát ra đời trong niềm hân hoan, kỳ vọng của ông và gia đình.
Thế nhưng, trong khi việc phát triển thị phần ngày một lớn mạnh, được khách hàng trong nước và bạn bè trong khu vực ủng hộ thì gia đình ông đứng trước bờ vực đổ vỡ. Năm 2005, ông và vợ ly hôn, vụ tranh chấp thương hiệu đình đám trị giá một triệu USD giữa hai vợ chồng kéo dài đến năm 2007 thì kết thúc. Lúc này ông chính thức chia tay thương hiệu mình từng đổ bao tâm huyết gây dựng.
"Tôi vẫn còn 10 cửa hàng bánh sau khi ly hôn nhưng khi kéo bảng hiệu Đức Phát xuống, tôi cảm thấy tinh thần sụp đổ. Không phải vì sợ mình không gầy dựng được thương hiệu mới, chỉ vì không nỡ dứt bỏ đứa con tinh thần mình mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng bấy lâu", ông Kao ngậm ngùi nhắc chuyện cũ.
Từng suy sụp đến độ sức khỏe tuột dốc nhưng vốn là người "siêu lực", ông Kao nhanh chóng tạo dựng thương hiệu mới ABC Bakery viết tắt của chữ Asia Bakery and Confectionery (Doanh nghiệp tư nhân bánh kẹo Á châu) vào tháng 5/2007. Ông hạnh phúc tiết lộ thêm, ABC cũng là tên tiếng Anh viết tắt của các con: Anglela (con gái thứ Kao Huy Minh); Bruch (con trai út Kao Hớn Phong) và Christine (con gái cả Kao Huy Phương).
Rồi dường như vẫn muốn chia sẻ thêm niềm hạnh phúc ấy, ông cười hào sảng nói tiếp: "Logo của ABC với hình một cậu bé mặc bộ quần áo thợ làm bánh chính là hình ảnh con trai út của tôi lúc nhỏ. Cháu học làm bánh từ năm 10 tuổi và hiện theo học ngành này tại Singapore".
3 năm qua, ông mở thêm 15 cửa hàng bánh tại Việt Nam, 2 cửa hàng bánh tại Campuchia, trong năm 2010 dự kiến sẽ có thêm 6 cửa hàng được mở với thương hiệu này. Mùa bánh trung thu năm nay, ông còn dốc tâm huyết cùng cộng sự tự chế tạo hệ thống máy làm bánh trung thu thay vì nhập khẩu để tiết kiệm chi phí sản xuất. Không ngừng tìm tòi sáng tạo, ông còn dành tặng cho "thượng đế" của mình một loại bánh độc đáo mang tên: Công Chúa Đen làm từ chocolate và phô mai trong quý II.
Khi được hỏi bí quyết thành công, ông Kao cười hồn hậu bật mí: "Chất lượng và chữ tâm, chỉ cần có hai thứ đó, bạn sẽ chinh phục được tất cả". Ông tâm niệm thợ vui thì ông vui, thợ gặp khó khăn thì ông xoắn tay áo cùng làm để giải quyết công việc. Dù là ông chủ nhưng ông không xa cách với nhân viên, vừa là thầy dạy cho thợ của mình, lại vừa là người bạn cùng làm việc với họ. Chính vì vậy, dù thương hiệu thay đổi nhưng ông vẫn được những học trò và bè bạn thợ thầy trung thành cùng góp sức với ông cho đến ngày hôm nay.
Tại vòng loại cuộc thi Cúp bánh mì thế giới diễn ra ở TPHCM trung tuần tháng 8, người đàn ông ngoại ngũ tuần yêu bánh như hơi thở, đầy nhiệt huyết với nghề, luôn dõi theo từng bước học trò trên trường thi. Khi hay tin thợ của mình đạt giải, ông vỗ tay reo hò thể hiện niềm vui như đứa trẻ. "Chúng tôi sẽ dốc sức thi trong vòng tiếp theo, tôi vẫn luôn kỳ vọng bánh mì Việt Nam được thế giới biết đến ngày càng nhiều", ông nói.

David Thái và cà phê Highlands - Đam mê kinh doanh không chỉ vì lợi nhuận

David Thái và cà phê Highlands - Đam mê kinh doanh không chỉ vì lợi nhuận

Thành công và nổi tiếng bậc nhất về sản phẩm cà phê như hiện nay, nhưng đối với David Thái, chủ tịch Tập đoàn Việt Thái và là người sáng lập ra thương hiệu cà phê Highlands nổi tiếng, thì mục đích kinh doanh không nằm ở lợi nhuận, mà đó chính là sự đam mê. Đối với ông, đam mê là đem lại cho khách hàng một sản phẩm Việt ưu việt, một thương hiệu Việt hàng đầu.
David Thái sinh năm 1972 tại Việt Nam, năm 1979 gia đình anh đã chuyển tới bang Seatle, Mỹ định cư. Lớn lên, David Thái học quản trị kinh doanh tại đại học danh tiếng Washington, tuy vậy chàng trai Việt không thấy hài lòng với nền giáo dục mà anh đang có vì theo anh, đó không phải là những kiến thức mà anh mong đợi .

Học văn hoá Việt khởi nghiệp cà phê

"Tôi sống giữa những sinh viên giàu có dù gia đình tôi nghèo và bố mẹ phải rất cố gắng để tôi có thể theo học ở trường. Hàng ngày khi bạn bè đi xe tời trường thì tôi phải đi bộ. Trong khi tôi cố gắng tiết kiệm từng mẫu giấy, bạn bè tôi dùng một cách phí phạm. Tôi cảm giác mình lạc lõng và tách biệt trong môi trường đó dù tôi vẫn cho rằng mình là người Mỹ thực sự. Cuối cùng, tôi nhận ra rằng chỉ có giáo dục, lối sống và giọng nói của Mỹ, còn tôi vẫn là một người Á Đông chính gốc", David Thái nhớ lại.

David quyết định học thêm về triết học với mục đích trả lời câu hỏi "tồn tại hay không tồn tại". Anh bắt đầu nghĩ về Việt Nam và thấy không thoả mãn với hai tiếng mỗi ngày tiếp cận với nền văn hoá Việt ở nhà. Những gì ba mẹ giải thích về Việt Nam, sống trong văn hoá Việt Nam anh mới có thể tìm lại con người mình. Năm 1996, David Thái về Việt Nam theo chương trình học bổng học tiếng Việt Nam với vỏn vẹn 1.000 đôla trong túi. "Tôi bắt đầu học văn học Việt, đọc truyện Kiều. Dù không hiểu hết ý nghĩa của nó nhưng tôi cảm nhận hạnh phúc và đau khổ, hiểu về văn hoá của người Việt". Với suy nghĩ đơn thuần về Việt Nam chỉ là để tìm lại con người mình cần phải sống, không chỉ với số tiền ít ỏi kia và tôi may mắn có công việc phiên dịch và chiếm được tin tưởng, cảm tình của một nhà đầu tư, ông ấy quyết định giúp tôi bắt đầu sự nghiệp".

Khẳng định thưởng hiệu Highlands coffee

David mở quán cà phê mang tên Âu Lạc gần hồ Hoàn Kiếm. Cửa hàng nhanh chóng thành công nhưng rồi anh bị "hất cẳng". Nhà đầu tư trước kia quyết định không tài trợ tiếp cho anh dù David thuyết phục anh sẽ làm lại từ đầu và làm rất tốt. Với số tiền ít ỏi kiếm được từ Âu Lạc, anh bắt đầu lại với niềm tin rằng thị trường còn rất nhiều tiềm năng trong khi các công ty cà phê Việt chủ yếu chú ý tới xuất khẩu mà thiếu đầu tư vào thị trường trong nước. David cho rằng, với khoảng thời gian tuy không dài ở Việt Nam, anh đã gắn bó với con người và mảnh đất nơi đây, có lợi thế so với nước ngoài khi làm kinh doanh tại đây vì anh đã có cái hiểu nhất định về văn hoá Việt. Đó chính là lý do David quyết định làm lại từ đầu. Với anh, mọi cái anh làm, là làm cho Việt Nam. Năm 1997, David bắt đầu tìm hiểu Luật đầu tư nước ngoài. Tới 1998, anh là Việt kiều đầu tiên được cấp phép thành lập công ty tư nhân tại Hà Nội. Tới năm 2000, David là doanh nhân đầu tiên đăng ký thành lập công ty cổ phần.

Tập đoàn Việt Thái ngày nay được thành lập năm 2002. Ban đầu chỉ có 2 cửa hàng Highlands coffee ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Sau 7 năm, hiện nay số cửa hàng Highlands Coffee đã vượt quá con số 80 trên 6 tỉnh thành bao gồm Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu và Đồng Nai. Thương hiệu Highlands coffee hiện nay chiếm ưu thế trên thị trường cà phê. Trong năm 2008, Tập đoàn Việt Thái có hơn 5 triệu lượt khách và phục vụ hơn 2 triệu bữa ăn hơn 4 triệu cốc cà phê cho khách hàng.

Ngày nay, hoạt động kinh doanh của tập đoàn được chia thành 2 mảng chính. Thực phẩm, đồ uống và hoạt động liên quan đến phong cách khách hàng - Consumer Lifestyle. Bên cạnh thương hiệu Highlands, nhóm hoạt động F&B của Việt Thái còn có hai nhãn hiệu nhà hàng là  Meet & Eat và Nineteen 11. Meet & Eat bao gồm căn tin và góc ẩm thực với mục đích tập trung vào giá trị của đồng tiền trong môi trường sạch sẽ vệ sinh và hiện đại được đặt tại E-Town 2, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 800m2. Còn Nineteen 11 là một nhà hàng sang trọng nằm trong nhà hát lớn Hà Nội. Nhà hàng là một minh chứng cho khả năng phát triển và quản lý của Việt Thái, đồng thời cũng cho thấy sứ mệnh của công ty trong việc đem lại những gì tốt đẹp nhất của thế giới tới Việt Nam và những gì tốt đẹp nhất của Việt Nam ra thế giới. Về hoạt động Consumer Lifestyle, Việt Thái tham gia phân phối sản phẩm Nike, một trong những sàn phẩm hàng đầu về quần áo, giày dép trên thế giới. Tập đoàn mở của hàng Nike đầu tiên năm 2006 và hiện có 6 cửa hàng tại Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng. David cho biết sự hiện diện của Nike ở thị trường Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu và đây là đối tác chiến lựợc mà Việt Thái lựa chọn, và muốn đóng một phần quan trọng trong tương lai sắp tới. Bên cạnh Nike, Việt Thái cũng không giấu tham vọng sẽ tiếp tục hợp tác với các thương hiệu hàng đầu khác trên giới. Hiện tập đoàn đã có những đàm phán ban đầu với những thường hiệu hàng đầu thế giới và gần đây ký thoả thuận với nhãn hiệu ALDO, nhãn hiệu thời trang lớn nhất Canada về giày dép.

Năm 2006, Việt Thái hợp tác với Tập đoàn Grey Global Group, một công ty dịch vụ hàng đầu được bình chọn là một trong 1.000 nhãn hiệu hàng đầu do tạp chí Fortune chọn, với tỷ lệ nắm giữ 49%. Ngày nay, liên doanh này đã trở thành một trong những công ty quảng cáo có mức độ tăng trưởng nhanh nhất tại Việt Nam với số lượng nhân viên trên 70 người và những khách hàng lớn như BAT, Sara Lee, Arla Foods, Bayer, P&G và Claxo Smith & Kline. "Chúng tôi có một đội ngũ quản lý sáng tạo và hi vọng sẽ trở thành công ty quảng cáo hàng đầu trong một vài năm tới". David Thái không dấu diếm tham vọng.

Tham vọng vươn ra chiếm lĩnh thị trường


Với thương hiêu Highlands, Việt Thái cũng đang tập trung mở hệ thống phân phối và bán lẻ của mình trong thị trường nội địa. Hiện nay, thương hiệu nay cũng nhận được hàng nghìn đề nghị từ các công ty nước ngoài về sản phẩm đóng gói. Hiện công ty đang xây dựng chiến lược và tổ chức để mở rộng số lượng cửa hàng Highlands ra thị trường quốc tế. "Chúng tôi đã chính thức thiết lập đại lý bán buôn cả trong nước và quốc tế, đồng thời xây dựng đội ngũ nhân viên mạnh dưới sự quản lý của David France, trước đây từng làm tổng giám đốc của sản phẩm nước uống đóng chai Coca Cola tại Việt Nam. Đại lý ở  thị trường quốc tế của chúng tôi đã có hoạt động phân phối tạo vài quốc gia trên thế giới và hiện đang xuất khẩu dòng sản phẩm của chúng tôi sang Mỹ, Úc, và Nhật Bản. Mở rộng ra thị trường quốc tế là một hướng đi chiến lược của chúng tôi và chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện chiến lược này trong năm 2009 và trong các năm sắp tới", David chia sẻ thêm.

Tập đoàn này cũng tham vọng sẽ có 150 đại lý trong toàn quốc trong vòng 3 năm tới và mở rộng sản phẩm đóng gói lên hơn 50.000 điểm bán hàng trong cùng thời điểm đó. "Là một công ty Việt, chúng tôi cam kết vì sự phát triển của một Việt Nam, vì một nền kinh tế thị trường bằng cách cung cấp thương hiệu đẳng cấp cho tầng lớp trung lưu của Việt Nam. Cụ thể chúng tôi hướng tới đóng vai trò quan trọng trong việc cải tiến chất lượng cuộc sống khách hàng thông qua thương hiệu của chúng tôi. Chúng tôi không có ý định dừng lại và sẽ tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh hiện tại và tiếp tục phát triển thương hiệu của chúng tôi và tiếp tục tìm kiếm những thương hiệu làm mãn khách hàng mục tiêu mà chúng tôi hướng tới", David cho biết.

Đầu năm 2009, David vinh hạnh được vinh danh là một trong 2 người Việt Nam nhận giải thưởng Lãnh đạo Toàn cầu Trẻ - Young Global Leaderdo Diễn đàn Kinh tế Thế giới bình chọn. Đây là một diễn đàn cho các lãnh đạo trên thế giới hợp tác trong một cộng đồng đa dạng gồm các chính phủ, doanh nghiệp và các nhà lãnh đạo xã hội. David Thái bày tỏ: "Câu chuyện của tôi cũng giống như những câu chuyện về các doanh nhân khác với một khởi đầu không dễ dàng. Tôi trở về Việt Nam với khoảng tiền nhỏ và ngày nay Việt Thái đẵ có một vị trí nhất định trên thị trường với hơn 80 cửa hàng trong nhóm F&B. Chúng tôi đã có một đội ngũ quản lý mạnh, có cam kết với sự phát triển và sẽ tiếp tục sự phát triển đó trong tương lai".